Tích hợp chuỗi khối blockchain trong lĩnh vực dầu khí thượng nguồn (Kỳ II)
Với nhu cầu về năng suất, trách nhiệm và độ tin cậy ngày càng gia tăng, một số doanh nghiệp dầu khí đã bắt đầu nghiên cứu những phương cách công nghệ chuỗi khối blockchain.
Cập nhật những diễn biến nổi bật trên thế giới về năng lượng, dầu khí, kinh tế, khoa học - công nghệ và hợp tác quốc tế, mang đến góc nhìn đa chiều về các xu hướng toàn cầu.
Với nhu cầu về năng suất, trách nhiệm và độ tin cậy ngày càng gia tăng, một số doanh nghiệp dầu khí đã bắt đầu nghiên cứu những phương cách công nghệ chuỗi khối blockchain.
Trong phạm vi bài viết, xin trân trọng giới thiệu với quý độc giả ấn phẩm “Tích hợp chuỗi khối blockchain trong lĩnh vực dầu khí thượng nguồn” của các tác giả thuộc Michigan State University, và công ty luật Validation Associates LLC (Hoa Kỳ) số ra tháng 2 vừa qua nhằm cung cấp cho các công ty dầu khí và các bên liên quan có thể sử dụng công nghệ blockchain để thúc đẩy hiệu suất kinh doanh và nâng cao hiệu quả cũng như khám phá những ứng dụng tiềm năng và những thách thức liên quan đến việc thực hiện blockchain, để tham khảo.
Reuters lưu ý trong một báo cáo rằng hoạt động của các nhà máy ở Trung Quốc đã chậm lại hơn nữa trong tháng trước, khi cục thống kê nước này báo cáo chỉ số PMI là 49,5 - mức thấp nhất trong 5 tháng.
Nguồn dự trữ giữ lại một lượng vốn đáng kể (ngoài việc tạo ra chi phí bảo trì) có thể được sử dụng tốt hơn ở nơi khác. Mặc dù dầu dự trữ có giá trị song quan điểm này đã bỏ qua chi phí cơ hội của việc xử lý lượng dự trữ.
Một thách thức nữa trong việc đánh giá đầy đủ chi phí và lợi nhuận của SPR là thực tế là một số lợi nhuận của dự trữ dầu có thể là vô hình, do đó điều này rất khó định lượng. Những điều này có thể bao gồm việc ngăn chặn các lệnh cấm vận dầu mỏ, khuyến khích triển khai nhanh hơn năng lực dự phòng của OPEC
Công suất hiện tại của SPR là kết quả của những cuộc đấu tranh và thỏa hiệp quan liêu hơn là bất kỳ loại “thiết kế thông minh” nào, và những lời kêu gọi gần đây về việc điều chỉnh quy mô dự trữ hợp lý, chí ít là chỉ một phần, đã phản ánh kỳ vọng tối ưu hóa quy mô của SPR với các phương pháp định lượng mạnh mẽ trong điều kiện thị trường dầu mỏ đã thay đổi hoàn toàn ngày nay.
SPR như một công cụ chuyển đổi năng lượng ngay cả khi nhu cầu dầu bắt đầu giảm do một phần của quá trình chuyển đổi năng lượng thì sự kỳ vọng SPR nhất thiết sẽ mất giá trị cũng không thể đứng vững được.
Hiện dự báo sản lượng dầu vốn không chắc chắn. Dầu đá phiến của Hoa Kỳ, mặc dù có sự khác biệt quan trọng so với phần còn lại của lĩnh vực công nghiệp song cũng không phải là ngoại lệ.
Hiện các thực tiễn tốt nhất về CG và CSR được khám phá, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp tính bền vững vào các chiến lược kinh doanh cốt lõi của công ty dầu khí.
Kể từ cú sốc dầu mỏ những năm 1970, thị trường dầu mỏ đã trở nên hội nhập và liên kết chặt chẽ trên toàn cầu. Một thị trường tương lai sâu sắc và có tính thanh khoản cao đã phát triển mà không tồn tại trước đó khi SPR được thành lập.
Quản trị doanh nghiệp (corporate governance-CG) và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (corporate social responsibility-CSR) là những thành phần không thể thiếu của tính bền vững trong lĩnh vực dầu khí, giúp định hình tác động môi trường và xã hội của lĩnh vực công nghiệp này.
Dựa trên những thay đổi này trong bối cảnh và triển vọng năng lượng, có thể đưa ra một số lập luận để cắt giảm quy mô của SPR.
Hiện thị trường máy bay không người lái (drones/UAV) toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ và các trường hợp sử dụng chúng nhằm giảm thiểu rủi ro đang xuất hiện trong lĩnh vực dầu khí ngoài khơi với nhiều trường hợp sử dụng máy bay không người lái đang hiện thực hóa đối với cả các dự án dầu khí trên đất liền lẫn ngoài khơi, nhiều trường hợp trong số đó đang hỗ trợ giảm thiểu rủi ro trong lĩnh vực công nghiệp này.
Việc thành lập SPR của Hoa Kỳ bắt nguồn từ thực tế khắc nghiệt của những năm 1970: Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu dầu ròng của Hoa Kỳ sau năm 1970 nhanh hơn với việc Tổng thống Richard Nixon bãi bỏ hạn ngạch nhập khẩu vào năm 1973, và việc vũ khí hóa chính trị việc xuất khẩu dầu của các nước sản xuất dầu khí hàng đầu ở khu vực Trung Đông trong cuộc chiến Yom Kippur (1973).
Đối với chi phí trả trước cao và lợi tức đầu tư không chắc chắn có thể là rào cản cho việc ứng dụng công nghệ, đặc biệt đối với các công ty, doanh nghiệp dầu khí nhỏ hơn với nguồn tài chính hạn chế.
Những điều kiện thị trường đang thay đổi này đòi hỏi phải xem xét lại các chính sách an ninh năng lượng của Hoa Kỳ và kiểm tra xem liệu SPR của Hoa Kỳ có còn “phù hợp với mục đích” dự trữ hay không.
Kế hoạch phát triển điện lực (PDP) mới được chờ đợi của Thái Lan sẽ được hoàn thành vào Quý II năm nay, nhằm tăng cường năng lượng tái tạo giai đoạn năm 2024-2037.
Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư năng lượng có thể giúp giảm phát thải khí nhà kính GHG và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
Việc đổi mới công nghệ đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm phát thải khí nhà kính GHG trong lĩnh vực dầu khí.
Cộng đồng khoa học đồng ý rằng chúng ta phải khám phá và phát triển tất cả các giải pháp để giảm lượng khí thải carbon dioxide (CO2) và các loại khí nhà kính khác, nếu muốn ổn định sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu.